Sức khỏe - Đời sống

Huyền thoại Phật Tổ chùa Quan Âm

Huyền thoại Phật Tổ chùa Quan Âm- Ảnh 1.

4 (2).jpg

Vô rừng đốn củi gặp kinh

Ngôi chùa do Hòa thượng Trí Tâm khai sơn, vị hòa thượng từng bị triều đình kết tội là "gian đạo sĩ". Đến nay, Sắc tứ Quan Âm cổ tự đã trải qua nhiều đợt trùng tu nhưng vẫn giữ được nét kiến trúc xưa với mái ngói âm dương hình thuyền, cùng với hoa văn họa tiết sắc sảo.

Huyền thoại Phật Tổ chùa Quan Âm- Ảnh 2.
Huyền thoại Phật Tổ chùa Quan Âm- Ảnh 3.

Ngôi chánh điện chùa Sắc tứ Quan Âm

ẢNH: HOÀNG PHƯƠNG

Theo tác giả Nghê Văn Lương trong Cà Mau xưa và An Xuyên nay, Hòa thượng Trí Tâm thế danh là Tô Quang Xuân, người gốc Đầm Dơi, làng Tân Duyệt, tính tình ngay thẳng, làm lành lánh dữ, sẵn dạ thương người, bà con láng giềng ai cũng kính yêu. Năm Tô Quang Xuân 20 tuổi, gia đình đã tính chuyện hôn nhân.

Một hôm, ngài vào rừng đốn củi chuẩn bị làm lễ cưới xin thì phát hiện quyển "kinh Năm Ông" trong một bọng cây. Thấy lạ, ngài mang quyển kinh về đọc. Đêm ấy, ngài mơ thấy Phật Quan Âm hiện ra bảo "duyên đã đến nên tu hành để cứu đời". Đến sáng, ngài kể lại giấc mơ của mình rồi xin gia đình cho từ hôn để xuất gia học đạo. Không nỡ ép duyên con, cha mẹ ngài chấp thuận ý nguyện cho ngài xuất gia. Sau đó, ngài tới Cà Mau, chọn nơi thanh vắng cất một cái am nhỏ để tu hành; đồng thời bốc thuốc trị bệnh cho dân.

Tương truyền, có lần chúa tể sơn lâm bị bệnh cũng tìm đến chùa xin thuốc và được ngài trị khỏi bệnh. Về sau, khi ngài viên tịch, cọp trở về nằm bên mộ ngài cho tới chết. Dân làng dựa theo sự tích cho xây ngôi mộ bên cạnh tháp của ngài, gọi là tháp Sư Cậu. Chưa rõ phương thuật trị bệnh cứu đời của ngài thế nào, nhưng căn cứ thời điểm ngài bị giải về Gia Định có thể xem ngài là tu sĩ truyền bá thuyết Di Lặc cứu thế đầu tiên ở xứ Nam kỳ, trước cả Phật thầy Tây An Đoàn Minh Huyên ở Châu Đốc.

Huyền thoại Phật Tổ chùa Quan Âm- Ảnh 4.

Cổng chùa Sắc tứ Quan Âm

ẢNH: HOÀNG PHƯƠNG

Theo Khâm định Đại Nam hội điển sự lệ, bấy giờ, triều đình nhà Nguyễn cấm những người truyền bá tín lý Di Lặc cứu thế vì họ là tàn dư của các hội kín Bạch Liên giáo, Minh Tông giáo, Bạch Vân xã, Thiên Địa hội... có hại cho sự an nguy của đất nước. Đồng thời, cấm đồng bóng, thầy cúng, thầy phù thủy và những người biết "thỉnh tiên giáng bút", vì sợ họ tập hợp đông người để làm chuyện phản loạn. Nhiều người trong các hội kín này đã theo chân họ Mạc vào đất Hà Tiên hoạt động truyền bá thuyết Di Lặc cứu thế, mục đích huy động lực lượng "phản Thanh phục Minh".

Bị vu cáo là gian đạo sĩ

Trong lúc đó, có người vì ganh ghét đã mật cáo với quan trên rằng ngài là gian đạo sĩ, có phép sái đậu thành binh, âm mưu phản nghịch. Vì vậy, triều đình ra lệnh bắt ngài giải về Gia Định để chịu sự giám sát. Tín đồ hay tin ùn ùn kéo xuống bờ sông than khóc. Khi bị "an trí" ở chùa Kim Chương, ngài đã theo tam quy ngũ giới, nhận pháp danh là Trí Tâm. Theo nhà nghiên cứu Trương Ngọc Tường, thời điểm ngài Tô Quang Xuân bị bắt về chùa Kim Chương lúc Tả quân Lê Văn Duyệt còn làm Tổng trấn Gia Định, trước khi có biến loạn Lê Văn Khôi.

Tương truyền, lúc ở chùa Kim Chương, ngài đang tụng kinh thì viên tịch, hồn bay ra tới Huế. Bấy giờ, vua Minh Mạng đang ngồi đọc và phê chiếu chỉ bỗng thấy một ông Phật sáng lòa xưng với vua là sư Trí Tâm đang tu tập ở Sắc tứ Kim Chương tự. Sáng hôm sau, vua khẩu dụ phong cho Trí Tâm làm Hòa thượng.

Trong dân gian truyền rằng, nhục thân của ngài được đưa về Cà Mau, qua nhiều ngày đi thuyền mà không bị phân hủy. Bấy giờ, trên trời có đàn chim bay theo, dưới sông có cặp cá kình bơi hộ tống. Ban đêm, đom đóm tụ lại bay trước mũi thuyền để chiếu sáng…

Huyền thoại Phật Tổ chùa Quan Âm- Ảnh 5.

Bức tượng Hòa thượng Trí Tâm

ẢNH: HOÀNG PHƯƠNG

Thấy việc lạ nên dân gian xem ngài là Phật Tổ, từ đó chùa Quan Âm cũng được gọi là chùa Phật Tổ.

Năm Thiệu Trị thứ 2 (1842), sư Trí Tâm được triều đình sắc phong Hòa thượng và truy tặng theo quan chế là một cây lụa. Tờ sắc có ghi chú Hàn lâm viện Học sĩ soạn. Nhà chùa dựng tấm bia đá ở phía cổng chùa ghi lại bản sắc phong. Mặt ngoài bia khắc Hán tự, mặt trong khắc chữ quốc ngữ. Xin trích một đoạn:

"Hỡi ơi!

Tiên cảnh không trần thiên đường có nẻo

Vinh hạnh thay! Kính tỏ tấm lòng sùng thượng ân ban một đạo (sắc) gấm vóc đôi cây gọi là để ghi ân huệ triều đình, làm sáng tỏ công đức của ngài.

Khả kính thay!

Hoàng triều Thiệu Trị nhị niên.

Nhâm Dần niên (1842) tháng 6 ngày mồng ba…"

Việc sắc tứ cho chùa Quan Âm, ngoài công đức tu tập của Hòa thượng Trí Tâm, còn là việc triều đình nhà Nguyễn ghi công cho vùng đất Cà Mau, vốn là căn cứ địa thời chúa Nguyễn Ánh bôn tẩu. (còn tiếp) 

Các tin khác