Đơn cử, họ xem GV có vai trò như "người hỗ trợ học tập", "người hướng dẫn", "người hỗ trợ cảm xúc" thay vì chỉ đơn thuần là người truyền đạt kiến thức. Để làm điều này, các GV sẽ sử dụng ngôn ngữ của thế hệ Z hay thế hệ Alpha, cười nhiều, hào phóng lời khen, dành tâm sức tư vấn tâm lý cho học sinh (HS) khi các bạn bị áp lực thành tích từ gia đình hay gặp căng thẳng khi làm kiểm tra.

Giáo viên thế hệ Z bắt đầu trở thành lực lượng chủ lực trong công tác sư phạm
ẢNH: NHẬT THỊNH
GV thế hệ Z còn tạo điều kiện để HS tham gia đồng kiến tạo nội quy lớp học.
Nghiên cứu phỏng vấn nhóm GV sinh từ năm 1998-2003 cho thấy các GV tham gia khảo sát đều có kế hoạch phát triển chuyên môn rõ ràng như lấy bằng thạc sĩ, chứng chỉ giảng dạy quốc tế, mở rộng kiến thức liên ngành sang những lĩnh vực như STEM (khoa học, công nghệ, kỹ thuật, toán học). Xây dựng thương hiệu cá nhân cũng được các GV trẻ xem là một hướng phát triển chuyên môn.
Tiến sĩ giáo dục Trần Thanh Vũ, nhà nghiên cứu tại TP.HCM, tác giả bài báo khoa học nêu trên, nhấn mạnh thông qua công trình nghiên cứu, ông không muốn tạo ra những định kiến thế hệ, do thế hệ nào cũng có các nhu cầu "rất con người". Tuy vậy, khi xem xét những yếu tố mang tính thời đại như công nghệ, toàn cầu hóa, giao thoa văn hóa, kinh tế... mỗi thế hệ lại có những tiếng nói đặc trưng nếu xem xét trong bối cảnh cụ thể.
"Vài năm qua, tôi có cơ hội tiếp xúc với nhiều GV thế hệ Z và nhận ra các bạn có góc nhìn khác biệt với những thế hệ trước về nghề dạy học. Bên cạnh đó, các bạn cũng đang bắt đầu trở thành lực lượng chủ lực trong công tác sư phạm. Việc hiểu rõ cách GV định nghĩa nghề nghiệp không chỉ mở đường cho các chương trình đào tạo hiệu quả và kịp thời hơn mà còn định hướng tương lai của nghề dạy học", tiến sĩ Vũ chia sẻ lý do thực hiện nghiên cứu.
Theo ông Vũ, nhiều GV thế hệ Z tham gia nghiên cứu coi dạy học là một dịch vụ giáo dục, thể hiện rõ nét qua việc các bạn cho rằng nhà giáo nên nhận được quyền lợi tương ứng với công sức họ bỏ ra, không phải là "cống hiến tất cả" hay buộc chấp nhận một đời sống thanh bần. Bên cạnh đó, các GV trẻ cũng cho rằng sự kính trọng mà xã hội dành cho họ nên được đánh giá qua năng lực hoặc chất lượng dịch vụ mà họ cung cấp.
"Quan điểm này cho phép người học được quyền lựa chọn, đánh giá GV thay vì hiển nhiên chấp nhận mọi thứ và xem đó là ơn nghĩa phải mang theo suốt đời. Trong kỷ nguyên trí tuệ nhân tạo (AI), khi việc truy cập kiến thức ngày càng dễ và thoát khỏi GV, góc nhìn này cũng tạo cho người học nhiều sự tự chủ hơn, và cũng là áp lực khiến thầy cô phải học tập và phát triển chuyên môn hơn nữa", ông Vũ nhận định.

Sinh viên sư phạm trong một giờ học. Đây là thế hệ giáo viên mới trong tương lai
ảnh: Ngọc Long
Trước đó, nhiều nghiên cứu trên toàn cầu cũng tìm hiểu về các GV thế hệ Z ở đa dạng khía cạnh. Chẳng hạn, Economist Intelligence Unit (EIU) năm 2020 đã khảo sát hơn 1.000 giáo sinh và GV mới vào nghề tại 10 quốc gia. Kết quả chỉ ra rằng, GV thế hệ Z sẽ giúp lớp học tăng cường ứng dụng công nghệ (59,9% người tham gia đồng tình), tập trung hơn vào việc giảng dạy các giá trị xã hội (50,3%) hay thúc đẩy cân bằng công việc - cuộc sống (43,3%)... vào năm 2030.
Cũng theo khảo sát, có nhiều yếu tố khiến người trẻ hiện nay e ngại khi bước vào nghề dạy học, đơn cử như mức lương không đủ hấp dẫn và sự căng thẳng, kiệt sức (45% người tham gia đồng tình), hành vi của HS ngày càng kém (37,2%) hay nghề giáo dần mất đi sự tôn trọng từ xã hội (28,1%)...
Tương tự, nghiên cứu của tác giả Laura Booker và các cộng sự (Mỹ) được xuất bản năm 2024 nêu rõ mức lương thấp, không đủ sống và việc thiếu nguồn lực nhân sự, tài chính, vật chất để thực hiện công việc là lý do hàng đầu khiến thế hệ Z rời bỏ nghề dạy học (cùng chiếm 78%). Trong khi đó, động lực quan trọng khiến họ chọn ở lại làm việc là được hỗ trợ phát triển chuyên môn và có đủ nguồn lực cho lớp học (80%).
Nghiên cứu đăng năm 2022 của tác giả Ariel C. Venida (Philippines) thì chỉ ra rằng, xét về giá trị nội tại của nghề dạy học, GV thuộc thế hệ Z coi trọng phát triển kỹ năng cá nhân, sự trưởng thành và phát triển chuyên môn cũng như thành tựu, sự công nhận cá nhân. Còn về giá trị ngoại tại, thầy cô xem trọng các mối quan hệ làm việc lành mạnh, tinh thần đồng đội và sự hợp tác, cân bằng công việc - cuộc sống, sự ổn định trong công việc và tài chính.



