Giáo dục

Đối sánh điểm thi tốt nghiệp THPT 5 năm: Chênh lệch vùng miền chưa thu hẹp

N ĐỊNH NHƯNG PHÂN TẦNG RÕ RỆT

Giai đoạn 2020-2025, Bộ GD-ĐT chủ trương đối sánh kết quả thi tốt nghiệp THPT thông qua các chỉ số như điểm trung bình các môn và độ chênh lệch giữa điểm học bạ với điểm thi của 63 địa phương. Những chỉ báo này giúp nhận diện điểm mạnh, điểm yếu của từng địa phương, làm cơ sở để Bộ GD-ĐT điều chỉnh chính sách ở tầm vĩ mô và để các địa phương xây dựng giải pháp nâng cao chất lượng giáo dục.

 - Ảnh 1.

Thí sinh dự thi tốt nghiệp THPT năm 2025

ẢNH: ĐÀO NGỌC THẠCH

Kỳ thi tốt nghiệp THPT năm 2025 rất đặc biệt, được tổ chức khi cả nước có 63 đơn vị hành chính; nhưng đến khi chấm thi, đơn vị hành chính được sắp xếp lại còn 34 đơn vị. Về phương thức thi, vừa thi 4 môn theo chương trình giáo dục phổ thông 2018, vừa thi 6 môn theo chương trình giáo dục 2006 cho những thí sinh tự do.

Sau khi có kết quả, Bộ GD-ĐT thực hiện 2 phương thức đối sánh, một là đối sánh 63 tỉnh, thành (cũ) để đảm bảo dữ liệu liên tục trong một hệ quy chiếu; và hai là đối sánh theo 34 đơn vị hành chính mới.

Trên cơ sở dữ liệu trung bình điểm thi giai đoạn 2021-2025, chúng tôi tính điểm bình quân 5 năm của từng địa phương, sắp xếp từ cao xuống thấp và phân chia toàn quốc thành 3 nhóm rõ rệt.

Đối sánh cho thấy, điểm trung bình 5 năm của các địa phương dao động từ 7,076 điểm (Vĩnh Phúc) đến 5,588 điểm (Hà Giang). Chênh lệch gần 1,5 điểm trong cùng một kỳ thi quốc gia là con số rất đáng chú ý.

Các tỉnh/thành dẫn đầu vẫn thường xuyên nằm trong nhóm đầu; các địa phương cuối bảng cũng khó thoát khỏi nhóm thấp. Điều này phản ánh một thực tế: chất lượng giáo dục có sự chênh lệch vùng miền, chịu tác động bởi điều kiện KT-XH, đội ngũ giáo viên, quản trị nhà trường và môi trường học tập, chứ không chỉ bởi phương thức tổ chức kỳ thi.

NHÓM THỨ NHẤT: ĐIỂM BÌNH QUÂN 5 NĂM TỪ 6,5 ĐIỂM TRỞ LÊN

Ở nhóm này có 22 địa phương, gồm những địa phương có KT-XH và giáo dục phát triển, chất lượng giáo dục ổn định, với thứ hạng các năm trong khoảng 20. 10 địa phương dẫn đầu gồm Vĩnh Phúc, Nam Định, Bình Dương, Ninh Bình, Hà Nam, Hải Phòng, Phú Thọ, Hà Tĩnh, Bắc Ninh và An Giang; trong đó Vĩnh Phúc, Nam Định, Bình Dương là 3 địa phương có điểm bình quân 5 năm trên 7,0.

Nhóm này phân bố nhiều vùng, trong đó nổi trội là đồng bằng (ĐB) sông Hồng có 10 địa phương, ĐB sông Cửu Long (ĐBSCL) có 5, vùng núi phía bắc, Bắc Trung bộ và Đông Nam bộ mỗi vùng có 2; Nam Trung bộ và Tây nguyên 1.

So sánh riêng năm 2025 với năm 2024, một số địa phương trong nhóm có bước tăng hạng đáng kể như Hà Nội (từ 22 lên 7), Nghệ An (từ 12 lên 2), Hải Dương (13 lên 8), TP.HCM (20 lên 16) và Cần Thơ (24 lên 20). Ngược lại, một số địa phương lại giảm hạng khá sâu, như Vĩnh Long, Lâm Đồng, An Giang, Bắc Ninh và Hải Phòng.

 - Ảnh 2.

Nhóm 22 địa phương điểm bình quân 5 năm từ 6,5 trở lên

Nguồn: Số liệu công bố của Bộ GD-ĐT, tính toán của các giả

NHÓM THỨ HAI: BÌNH QUÂN 5 NĂM TỪ 6,2 ĐẾN DƯỚI 6,5 ĐIỂM

Nhóm này có 25 địa phương, có thứ hạng các năm từ 21 đến 50, hầu hết là các địa phương miền núi hoặc có vùng núi, hải đảo hay sông nước. Trong đó, vùng núi phía bắc có 4 địa phương, vùng Bắc Trung bộ có 3, vùng Nam Trung bộ và Tây nguyên có 7, Đông Nam bộ có 4, ĐBSCL có 5 và ĐB sông Hồng 2.

Đối sánh riêng năm 2024 và năm 2025, một số địa phương tăng hạng, như Quảng Nam (55 lên 31), Cà Mau (50 lên 36), Thanh Hóa (21 lên 11) và TP.Huế (25 lên 15). Đồng thời có một số địa phương giảm hạng, gồm Đồng Tháp (29 xuống 41), Kon Tum (40 xuống 51), Yên Bái (43 xuống 53) và Đà Nẵng (45 xuống 54).

 - Ảnh 3.

Nhóm 25 địa phương điểm bình quân 5 năm từ 6,2 đến dưới 6,5

Nguồn: Số liệu công bố của Bộ GD-ĐT, tính toán của các giả

NHÓM THỨ BA: ĐIỂM BÌNH QUÂN 5 NĂM DƯỚI 6,2

Nhóm này gồm 16 địa phương, có điều kiện tự nhiên và KT-XH khó khăn: vùng núi phía bắc chiếm 7 địa phương, Nam Trung bộ và Tây nguyên 5, ĐBSCL 3 và Bắc Trung bộ 1. Đây là những địa phương có tỷ lệ HS dân tộc thiểu số cao.

Thứ hạng của các địa phương này nhiều năm từ vị trí 50 trở đi, phản ánh rõ những hạn chế trong điều kiện phát triển giáo dục và thực tế cho thấy chất lượng đầu vào bậc THPT còn thấp.

Nhóm cuối bảng gồm nhiều tỉnh miền núi phía bắc, Tây nguyên và địa phương khó khăn. Điểm trung bình 5 năm của nhiều nơi dưới 6,0 và thứ hạng từ 54 trở xuống. Vì vậy, với các địa phương này, nỗ lực nội tại là chưa đủ, còn cần chính sách hỗ trợ mạnh mẽ từ T.Ư.

 - Ảnh 4.

Nhóm 16 địa phương điểm bình quân 5 năm dưới 6,2 điểm

Nguồn: Số liệu công bố của Bộ GD-ĐT, tính toán của các giả

YẾU TỐ ĐỂ CÁC ĐỊA PHƯƠNG BỨT PHÁ

Một con số đáng chú ý là khoảng cách điểm trung bình giữa hai nhóm địa phương. Tính bình quân 5 năm, 10 tỉnh, thành phố có điểm cao nhất đạt khoảng 6,85, trong khi 10 địa phương thấp nhất chỉ 5,99 điểm, chênh gần 0,9 điểm.

Khoảng cách này phản ánh sự phân tầng chất lượng giáo dục theo vùng miền. Trong chu kỳ 5 năm, mức chênh dao động: 2021 là 0,75 điểm; 2022 là 0,89; 2023 là 0,91; 2024 là 0,96; và 2025 giảm còn 0,77.

Dẫn đầu bảng xếp hạng là nhóm địa phương có sự ổn định và cải thiện đáng kể về chất lượng giáo dục. Các địa phương như Nam Định, Ninh Bình, Hà Tĩnh hay Hà Nam, dù không phải các "đầu tàu kinh tế", nhưng lại có truyền thống giáo dục, kỷ cương nhà trường và chất lượng đội ngũ nhà giáo.

Trong khi đó, Bình Dương là trường hợp đáng chú ý. Là địa phương công nghiệp với tốc độ đô thị hóa và gia tăng dân số cơ học nhanh, Bình Dương vẫn duy trì điểm trung bình 5 năm trên 7,0, đứng thứ 3 toàn quốc.

 - Ảnh 5.

Nguồn: Số liệu công bố của Bộ GD-ĐT và tính toán của tác giả

Đối sánh cũng cho thấy một số địa phương có xu hướng cải thiện trong 5 năm qua. Nghệ An là ví dụ tiêu biểu, 5 năm qua tỉnh tăng hạng liên tục (34 - 23 - 22 - 12 - 2). Kế đến là Hà Tĩnh (18 - 9 - 10 - 6 - 4), Hà Nội (25 - 25 - 20 - 22 - 7), Hải Dương (16 - 15 - 12 - 13 - 8), Tuyên Quang (31 - 18 - 21 - 14 - 21), Thanh Hóa (32 - 27 - 23 - 21 - 11)…

Ngược lại, có một số địa phương giảm hạng sâu qua các năm, như Vĩnh Long (8 - 10 - 14 - 16 - 45), Lâm Đồng (12 - 20 - 18 - 23 - 35), An Giang (4 - 12 - 9 - 10 - 19), Đồng Tháp (23 - 36 - 29 - 29 - 41).

Một điểm đáng chú ý khác là Hà Nội (hạng 19) và TP.HCM (hạng 13) không nằm trong top đầu, dù là hai trung tâm KT-XH lớn nhất cả nước.

Các đô thị Hà Nội và TP.HCM có quy mô học sinh rất lớn, đồng thời tồn tại chênh lệch rõ giữa khu vực nội thành - ngoại thành, chịu áp lực nhập cư và phân hóa điều kiện học tập. Bên cạnh đó, tỷ lệ học sinh trúng tuyển đại học sớm qua các phương thức như xét học bạ, thi đánh giá năng lực hoặc du học khá cao, khiến không ít em giảm động lực học tập ở học kỳ cuối lớp 12 và trong kỳ thi tốt nghiệp THPT. Điều này tác động trực tiếp đến điểm thi một số môn.

Năm 2025, Bộ GD-ĐT siết lại tuyển sinh: không xét tuyển sớm, xét học bạ phải có điểm học kỳ II lớp 12, qua đó tác động tích cực đến động lực học tập thực chất của học sinh. Kết quả, Hà Nội xếp thứ 7/63, TP.HCM xếp 16/63. Điều này cho thấy khi phương thức thi và đánh giá được điều chỉnh thực chất, các địa phương lớn có cơ hội bứt phá.

Giải pháp cho giai đoạn 2026 - 2030

Từ kết quả đối sánh 5 năm, có thể rút ra một số định hướng chính sách quan trọng cho giai đoạn 2026 - 2030.

Thứ nhất, cần sử dụng dữ liệu dài hạn làm công cụ phản hồi chính sách, thay vì chỉ dựa vào kết quả từng năm. Đối sánh 5 năm giúp phân biệt rõ cải thiện thực chất với biến động ngắn hạn.

Thứ hai, cần chính sách phân bổ nguồn lực, hỗ trợ các địa phương theo mức độ khó khăn, đặc biệt cho nhóm địa phương cuối bảng. Giáo dục không thể cào bằng nếu xuất phát điểm quá chênh lệch.

Thứ ba, cần chính sách giáo viên đặc thù cho vùng khó khăn: thu hút, giữ chân giáo viên giỏi, giảm luân chuyển hình thức, tăng hỗ trợ chuyên môn thực chất, và đặc biệt hỗ trợ các vùng khó khăn chuyển đổi số, áp dụng học liệu số và AI mạnh mẽ.

Thứ tư, các địa phương cần ưu tiên giảm bất bình đẳng nội vùng, thay vì chỉ chạy theo nâng điểm trung bình chung. Sau sáp nhập, cả nước còn 34 tỉnh, thành phố với điều kiện phát triển không đồng đều. Một số địa phương mới hình thành từ 2-3 tỉnh, thành có xuất phát điểm khác biệt lớn như Cần Thơ – Hậu Giang – Sóc Trăng; Lâm Đồng – Đắk Nông - Bình Thuận; Vĩnh Long – Bến Tre – Trà Vinh; Đà Nẵng – Quảng Nam; Phú Yên – Đắk Lắk…, khiến bài toán giáo dục thêm phức tạp. Nếu không có chính sách điều tiết nội vùng, chênh lệch sẽ gia tăng.


Các tin khác

Rừng Mai: Mảnh ghép đầu tiên mở ra Mùa Lễ Hội tại Eco Retreat

Khởi đầu Mùa Lễ Hội bằng những vạt mai vàng rực rỡ, phân khu Rừng Mai Eco Retreat của nhà sáng lập Ecopark mang đến một không gian sống tươi mới, năng động, tràn đầy năng lượng kết nối, nơi thiên nhiên, tiện ích và không khí lễ hội hòa quyện trong từng bước chân, nhịp sống của cộng đồng cư dân.