Thế giới

Lý do nợ công của Mỹ sẽ tăng mãi không ngừng sau khi vượt 38.000 tỷ USD

Nền kinh tế Mỹ kết thúc năm 2025 với một con số gây ám ảnh: nợ công chính thức vượt ngưỡng 38.000 tỷ USD. Đây là một dấu hiệu cảnh báo về sự mất cân bằng tài khóa nghiêm trọng. Với tỷ lệ nợ trên GDP vượt mức 124%, chính phủ Mỹ hiện đang đứng trước một bài toán không có lời giải dễ dàng.

Các chính trị gia hiện nay hầu như đã từ bỏ ý định trả hết nợ, và chỉ còn tập trung toàn bộ nguồn lực vào việc duy trì khả năng vay mượn để nuôi sống bộ máy cồng kềnh.

 

Gánh nặng nợ gốc và lãi vay

Vào ngày 21/10/2025, nợ công của Mỹ lần đầu vượt 38.000 tỷ USD. Đến ngày 8/1/2026, số nợ tăng lên trên 38.430 tỷ USD. Trung bình mỗi giây, nợ công của Mỹ tăng thêm khoảng 63.000 USD.

Nếu chia đều cho dân số, mỗi người dân hiện đang gánh khoản nợ 113.000 USD, và con số này trên mỗi hộ gia đình là 285.000 USD. Khối nợ khổng lồ này là kết quả của việc thâm hụt ngân sách kéo dài liên tục trong 24 năm qua.

Trong quý đầu tiên của năm tài chính 2026 (từ tháng 10 đến tháng 12/2025), chính phủ Mỹ đã vay thêm 601 tỷ USD, trung bình mỗi tháng vay hơn 200 tỷ USD.

Mặc dù doanh thu thuế có sự cải thiện nhờ các chính sách thuế quan mới, chi tiêu vẫn tiếp tục tăng nhanh hơn, khiến ngân sách không thể đạt tới trạng thái cân bằng. Sự chênh lệch này được bù đắp hoàn toàn bằng việc phát hành các trái phiếu kho bạc.

 Ngân sách liên bang Mỹ đã thâm hụt trong 24 năm liên tiếp. Chính phủ phải vay nợ để bù đắp số thâm hụt này. 

Sự nguy hiểm của khối nợ 38.000 tỷ USD nằm ở chi phí để duy trì nó. Trong môi trường lãi suất cao để chống lạm phát, gánh nặng trả lãi đã trở thành một khoản chi tiêu khổng lồ, triệt tiêu khả năng đầu tư vào các lĩnh vực khác của chính phủ.

Chi phí lãi vay ròng trong năm tài chính 2025 đã đạt mức 970 tỷ USD và dự kiến vượt 1000 tỷ USD trong năm 2026. Lần đầu tiên trong lịch sử, chi phí lãi vay trở thành hạng mục chi tiêu lớn thứ hai của chính phủ, chỉ đứng sau An sinh xã hội (Social Security) và đã chính thức vượt qua ngân sách quốc phòng.

Lãi suất trung bình đối với các khoản nợ có thể giao dịch (marketable debt) của Mỹ đã tăng từ 1,58% vào năm 2020 lên 3,38% vào cuối năm 2025. Với khối nợ 38.000 tỷ USD, chỉ cần lãi suất tăng thêm 1 điểm %, chính phủ sẽ phải tốn thêm 380 tỷ USD mỗi năm chỉ để trả lãi.

Ba lựa chọn của chính phủ Mỹ

Với khối nợ gốc 38.000 tỷ USD và đang tăng từng ngày, cùng với chi phí trả lãi khoảng 1.000 tỷ USD mỗi năm và cũng đang tăng dần, giới lãnh đạo Mỹ hiện đang đứng trước ba lựa chọn kinh điển.

Lựa chọn 1: Thắt lưng buộc bụng – Hành động "tự sát" về chính trị

Lựa chọn này yêu cầu chính phủ phải tăng thuế đáng kể và cắt giảm chi tiêu mạnh tay để tạo thặng dư ngân sách. Về mặt toán học, đây là cách duy nhất để thực sự giảm nợ.

Tuy nhiên, trong môi trường chính trị Mỹ, bất kỳ chính trị gia nào đề xuất cắt giảm an sinh xã hội hay bảo hiểm y tế cho người lớn tuổi (Medicare) - những chương trình chiếm tỷ trọng lớn nhất trong ngân sách - sẽ đối mặt với sự tẩy chay từ cử tri.

Việc tăng thuế cũng vấp phải sự phản đối quyết liệt từ giới doanh nghiệp và người dân, đặc biệt là sau khi Tổng thống Donald Trump ký ban hành “Đạo luật To đẹp” (OBBBA) vào tháng 7/2025, khiến công chúng kỳ vọng vào mặt bằng thuế thấp hơn.

Do đó, lựa chọn “thắt lưng buộc bụng” này bị coi là phi thực tế và không một đảng phái nào dám thực thi một cách triệt để.

Lựa chọn 2: Vỡ nợ - Sự sụp đổ của hệ thống tài chính toàn cầu

Tuyên bố vỡ nợ tương tự như Argentina hay Nga trước đây là một thảm họa không thể tưởng tượng nổi đối với Mỹ. Trái phiếu kho bạc Mỹ được coi là "tài sản phi rủi ro" và là nền tảng của toàn bộ hệ thống tài chính thế giới.

Nếu Mỹ vỡ nợ, lãi suất trên toàn cầu sẽ tăng vọt, thị trường chứng khoán sẽ sụp đổ, và niềm tin trên thị trường tài chính khắp thế giới sẽ tan biến ngay lập tức. Vì lý do này, không một tổng thống Mỹ nào muốn là người ký lệnh tuyên bố vỡ nợ.

Lựa chọn 3: In tiền và trả nợ bằng đồng USD đã mất giá

Dùng nợ mới trả nợ cũ là lựa chọn dễ dàng nhất, đã và đang được Mỹ thực thi. Chính phủ Mỹ tiếp tục vay mượn để chi tiêu và Cục Dự trữ Liên bang (Fed) sẽ in tiền, đóng vai trò hỗ trợ thanh khoản cho thị trường nợ.

In tiền sẽ gây ra lạm phát và lạm phát làm cho giá trị thực của các khoản nợ cũ bị giảm xuống, việc trả nợ sẽ dễ dàng hơn.

Lựa chọn này cũng chính là sự khác biệt căn bản giữa một hộ gia đình và một chính phủ hùng mạnh như Washington. Khi một hộ gia đình vay nợ quá nhiều, họ sẽ phải cắt giảm chi tiêu để trả bớt nợ hoặc phải tuyên bố phá sản. Nhưng chính phủ Mỹ khi nợ đầm đìa lại có thể tiếp tục vay nợ mới để trả nợ cũ và tăng chi tiêu, đó là vì Washington có đặc quyền tự in ra loại tiền dự trữ toàn cầu – USD.

Theo số liệu của Hiệp hội Thị trường tài chính và Công nghiệp chứng khoán Mỹ (SIFMA), chính phủ Mỹ phát hành 30.500 tỷ USD trái phiếu cho công chúng trong năm 2025, gần 94% số tiền thu về được dùng để trả nợ gốc đã vay từ các năm trước, chỉ còn khoảng 1.900 tỷ USD là tiền thu ròng để chi tiêu cho các mục đích khác. Tương tự trong năm 2024, chính phủ phát hành 29.300 tỷ USD trái phiếu thì trả nợ gốc hết 27.500 tỷ USD.

Đa phần tiền thu được từ phát hành trái phiếu Kho bạc ra công chúng được chính phủ Mỹ dùng để trả nợ gốc cũ.

Ai là người đang mua hàng chục nghìn tỷ USD trái phiếu kho bạc Mỹ mỗi năm? Câu trả lời nằm ở sự kết hợp giữa các quy định pháp lý và sự can thiệp của ngân hàng trung ương, khiến các ngân hàng và công ty bảo hiểm trở thành người cho vay quan trọng.

Theo các quy định của Basel III, các ngân hàng thương mại lớn phải duy trì tỷ lệ bao phủ thanh khoản (LCR) trên 100%. Trái phiếu kho bạc Mỹ được xếp vào loại tài sản thanh khoản chất lượng cao (HQLA) cấp độ 1, nghĩa là chúng được coi là tương đương tiền mặt và không bị chiết khấu khi tính toán tỷ lệ an toàn. Do đó, các ngân hàng phải nắm giữ một lượng lớn trái phiếu Mỹ để đáp ứng yêu cầu của cơ quan quản lý.

Tỷ trọng trái phiếu kho bạc trong tổng tài sản của các ngân hàng lớn tại Mỹ đã tăng từ 3% vào năm 2013 lên tới 11% vào năm 2024. Các công ty bảo hiểm cũng ở trong tình thế tương tự khi cần các tài sản an toàn để đảm bảo khả năng chi trả bồi thường trong tương lai.

Khi các định chế tài chính không có đủ tiền để đáp ứng nhu cầu vay nợ của chính phủ, Fed sẽ trực tiếp đứng ra bơm thanh khoản bằng cách mua trái phiếu kho bạc trong các chương trình nới lỏng định lượng (QE).

Hệ lụy và bài học lịch sử

Trong một cuộc phỏng vấn đầu năm 2026, Ray Dalio, tỷ phú sáng lập quỹ đầu cơ Bridgewater Associates, đã đưa ra những cảnh báo đáng sợ về tình trạng nợ công của Mỹ. Ông nhận định rằng quỹ đạo tài chính hiện tại là không bền vững và gánh nặng này sẽ đè nặng lên các thế hệ tương lai, khi con cháu của người Mỹ ngày nay sẽ phải trả nợ bằng những đồng USD đã bị mất giá đáng kể.

Dựa trên nghiên cứu về các chu kỳ kinh tế lịch sử, Dalio lập luận rằng khi một quốc gia tích lũy nợ quá mức, họ hiếm khi giải quyết vấn đề thông qua cắt giảm chi tiêu hay vỡ nợ. Thay vào đó, các chính phủ thường lựa chọn giải pháp kết hợp giữa việc in tiền và phá giá tiền tệ, tạo ra mức lãi suất thấp giả tạo để lợi nhuận thực của người cho vay không theo kịp lạm phát.

Từ hai nghìn năm trước, các chính quyền đã biết tới việc phá giá tiền tệ.

Để có tiền cho các cuộc chiến tranh và nuôi bộ máy hành chính, các hoàng đế La Mã cổ đại đã liên tục giảm hàm lượng bạc trong đồng tiền xu Denarius. 

Vào năm 211 trước công nguyên, đồng Denarius gần như là bạc nguyên chất. Đến thời hoàng đế Marcus Aurelius (năm 160 – 180 sau công nguyên), đồng Denarius chỉ còn 75% bạc. Đến năm 265, hàm lượng bạc giảm xuống còn 0,5%, Denarius chỉ là còn một miếng đồng mạ bạc.

Quá trình phá giá tiền tệ này đã dẫn đến lạm phát phi mã, thương mại sụp đổ và cuối cùng là sự phân rã của toàn bộ đế chế La Mã. Vương quốc Anh ở thế kỷ 16, Cộng hòa Weimar (Đức) vào thế kỷ 20, Venezuela trong thế kỷ 21 đều rơi vào thảm cảnh kinh tế khi in tiền quá đà.

Việc Mỹ liên tục tăng cung tiền và phát hành nợ mới để trả nợ cũ những năm qua chính là một hình thức phá giá tiền tệ hiện đại. Và hành động này đang dẫn đến những hệ quả tất yếu về tài chính cũng như địa chính trị.

Dữ liệu từ Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF) cho thấy tỷ trọng của đồng USD trong dự trữ ngoại hối toàn cầu đã giảm từ 70% vào năm 2000 xuống còn 56,9% vào quý III/2025 khi các ngân hàng trung ương đa dạng hóa tài sản sang các đồng tiền khác hoặc kim loại quý.

Khối BRICS+ đang tích cực thúc đẩy việc thanh toán bằng nội tệ và xây dựng các hệ thống tài chính độc lập với hệ thống SWIFT do phương Tây kiểm soát. Khi nhu cầu toàn cầu đối với đồng USD giảm xuống, khả năng của Mỹ trong việc "xuất khẩu lạm phát" thông qua việc phát hành nợ cũng sẽ bị hạn chế.

Và lịch sử cho thấy không có đế chế nào có thể duy trì sự thống trị mãi mãi khi dựa trên một nền tảng tiền tệ bị phá giá liên tục.

Các tin khác

Mỹ thúc ép các nước G7 giảm phụ thuộc Trung Quốc về đất hiếm

Mỹ đang gia tăng sức ép lên các nước Nhóm G7 và đối tác nhằm đẩy nhanh các hành động cụ thể để giảm sự phụ thuộc vào Trung Quốc trong lĩnh vực khoáng sản quan trọng và đất hiếm, những nguyên liệu then chốt đối với quốc phòng, công nghệ cao và chuyển đổi năng lượng.

Hết thời smartphone giá rẻ?

Làn sóng đầu tư khổng lồ vào trí tuệ nhân tạo (AI) đang làm xáo trộn sâu sắc chuỗi cung ứng bán dẫn toàn cầu, đẩy chi phí linh kiện, đặc biệt là chip nhớ, lên cao.

Từ 93 cuộc hội chẩn đến kì tích y khoa

Trong y khoa, có những cuộc chiến không chỉ được đo đếm bằng kĩ thuật hiện đại hay phác đồ điều trị, mà còn được khắc ghi bằng thời gian, sự bền bỉ và tinh thần quyết không bỏ cuộc của đội ngũ thầy thuốc.

Chuyện tử tế của nữ anh hùng xứ Quảng

Những năm về sau, khi cuộc sống ổn định hơn, Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân Nguyễn Vũ Minh Nguyệtdành nhiều thời gian cho các hoạt động thiện nguyện. Bà tham gia nấu cơm cho bệnh nhân nghèo, thăm hỏi gia đình liệt sĩ, mẹ Việt Nam Anh hùng.