Xã Hội

Quy hoạch thoát lũ của Kinh thành Huế dưới triều Nguyễn

Sau khi lên ngôi, vua Gia Long quyết định chọn Phú Xuân, vùng đất nằm bên bờ sông Hương làm kinh đô. Đây vốn là nơi các chúa Nguyễn trước đó đã lập phủ, cai quản xứ Đàng Trong.

Toàn cảnh Kinh thành Huế nhìn trên cao. Ảnh: Võ Thạnh

Toàn cảnh Kinh thành Huế nhìn trên cao. Ảnh: Võ Thạnh

Kinh thành Huế được xây dựng trên vùng đất trũng thấp thuộc lưu vực sông Hương, thường xuyên chịu ảnh hưởng của lũ lụt. Vua Gia Long coi việc xây dựng Kinh thành được xem là nhiệm vụ trọng yếu. Vì vậy, trước khi tiến hành xây dựng, vua Gia Long đã khảo sát rất kỹ lưỡng địa hình và thủy văn khu vực. Nhà vua cùng các kiến trúc sư triều đình bàn bạc, xác định việc quy hoạch hệ thống cấp, thoát nước và phòng chống ngập lụt là ưu tiên hàng đầu.

Để xây dựng Kinh thành với quy mô rộng lớn, triều đình buộc phải di dời cư dân của tám làng Phú Xuân, Vạn Xuân, Diễn Phái, An Vân, An Hòa, An Mỹ, An Bảo và Thế Lại. Nhằm ổn định đời sống nhân dân và tạo sự đồng thuận, vua Gia Long đã ban hành chính sách đền bù, hỗ trợ thỏa đáng, thể hiện rõ quan điểm "di dời thuận lòng dân". Sau khi hoàn tất công tác giải phóng mặt bằng, năm 1805 triều đình chính thức khởi công xây dựng Kinh thành Huế.

Bao quanh bốn mặt thành là hệ thống hào hộ thành rộng từ 30–40 m, vừa có chức năng phòng thủ, vừa tạo điều kiện cho dòng nước lưu thông, hạn chế tình trạng ngập úng khu vực bên ngoài thành. Hệ thống hào này được kết nối với sông Ngự Hà tại Đông Thành Thủy Quan và với sông Kẻ Vạn tại Tây Thành Thủy Quan.

Bên trong Kinh thành, triều Nguyễn cho đào sông Ngự Hà dài hơn 3 km, chạy từ Tây Thành Thủy Quan sang Đông Thành Thủy Quan. Con sông này thông với sông Đông Ba và sông Kẻ Vạn, trở thành trục thủy chính của toàn bộ mạng lưới thủy hệ trong Kinh thành. Sông Ngự Hà có mặt cắt rộng trung bình từ 40–60 m, độ sâu khoảng 2m. Tại hai đầu sông, triều đình xây dựng các cửa điều tiết nước ở hai Thủy Quan nhằm chủ động ngăn lũ hoặc thoát lũ trong mùa mưa bão.

Ngoài ra, trong Kinh thành còn có khoảng 40 hồ, ao lớn nhỏ, được liên kết với Ngự Hà thông qua hệ thống cống ngầm và cống nổi. Trong đó, hồ Tịnh Tâm có chu vi hơn 1.500m là một trong 20 cảnh đẹp của chốn kinh kỳ dưới thời vua Thiệu Trị. Hồ Học Hải rộng hơn 47.000m2, trung tâm hồ là Tàng Thư Lâu, nơi triều Nguyễn cất giữ công văn của triều đình. Phía bên ngoài Kinh thành Huế, triều Nguyễn cũng cho đào hệ thống sông Đông Ba, sông Bạch Yến và sông Kẻ Vạn quanh ba mặt thành, kết nối với sông Hương để chia sẻ dòng nước lũ đổ về hạ lưu.

Ông Phan Ngọc Thọ, nguyên Chủ tịch tỉnh Thừa Thiên Huế 2018- 2021. Ảnh: Võ Thạnh

Ông Phan Ngọc Thọ, nguyên Chủ tịch tỉnh Thừa Thiên Huế 2018- 2021. Ảnh: Võ Thạnh

Dưới thời vua Minh Mạng, nhà vua hoàn thiện hệ thống sông Ngự Hà và các con sông đào khác như sông Lợi Nông, Bạch Yến. Công tác nạo vét sông Ngự Hà và hệ thống hào hộ thành cũng được triều Nguyễn tiến hành định kỳ, bảo đảm dòng nước luôn thông suốt. Để bảo vệ hệ thống thủy lợi, triều Nguyễn ban hành nhiều quy định nghiêm ngặt nhằm giữ gìn nguồn nước, ngăn chặn tình trạng lấn chiếm, xả thải gây ách tắc dòng chảy. Lực lượng Vệ Hộ thành được giao nhiệm vụ tuần tra, kiểm soát, xử lý các hành vi xâm phạm thủy hệ, đồng thời kịp thời khắc phục các sự cố sạt lở, hư hỏng bờ kè hoặc tắc nghẽn dòng nước do mưa lũ gây ra.

Ông Phan Ngọc Thọ, nguyên Chủ tịch tỉnh Thừa Thiên Huế, cho rằng TP Huế có địa thế khác so với nhiều địa phương, lũ lụt thường xảy ra ở khu vực sông Hương, sông Bồ và vùng hạ du sông Ô Lâu. Huế có phá Tam Giang – Cầu Hai cùng với hệ thống cửa biển, nên lũ rút nhanh hơn.

Hệ sông Ngự Hà và hồ Tịnh Tâm bên trong Kinh thành Huế. Ảnh: Võ Thạnh

Hệ sông Ngự Hà và hồ Tịnh Tâm bên trong Kinh thành Huế. Ảnh: Võ Thạnh

Theo ông, triều Nguyễn xưa kia khi xây dựng Kinh thành Huế đã tính toán rất kỹ trong việc phòng chống lũ lụt, ngập úng. Trong khu vực Kinh thành Huế có hơn 40 ao hồ cùng hệ thống sông Ngự Hà, ngoài việc điều hòa còn giúp việc thoát lũ nhanh hơn. Sông Ngự Hà kết nối thẳng ra sông Đông Ba, sông Kim Long. Hệ thống các sông đào như Đông Ba, Như Ý, Phổ Lợi, Lợi Nông kết nối thẳng với sông Hương, giúp nước lũ thoát nhanh hơn về hướng phá Tam Giang – Cầu Hai, giảm ngập đô thị. Nhờ quy hoạch khoa học và các biện pháp quản lý chặt chẽ, Kinh thành Huế rất ít khi bị ngập lụt; nếu có xảy ra, nước cũng rút nhanh, hạn chế tối đa thiệt hại.

"Nhiều năm qua, hệ thống hộ thành hào và các hồ bên trong nội thành bị nhà dân lấn chiếm nên việc thoát lũ của Kinh thành Huế bị ảnh hưởng. Dự án "Bảo tồn, tu bổ và tôn tạo hệ thống Kinh thành Huế" đang thực hiện, là bước để trả lại nguyên vẹn của Kinh thành Huế xưa. Khi đó, hệ thống các ao hồ, sông bên trong Kinh thành Huế sẽ được nạo vét, gia cố, phát huy vai trò vốn có.

Theo ông Thọ, nhìn từ quy hoạch kiến trúc của Kinh thành Huế dưới triều Nguyễn, chính quyền TP Huế sau này đã rút ra kinh nghiệm cho việc quy hoạch đô thị. Vùng lõi trung tâm đô thị vẫn có các hồ, vừa làm cảnh quan, vừa tiêu thoát nước lúc mưa lớn. Khi xây dựng khu vực đô thị mới An Vân Dương, chính quyền TP Huế cũng đã quy hoạch các hồ cảnh quan ngầm, kênh đào để giảm ngập úng đô thị.

Các tin khác