Kinh tế

Kỷ nguyên tiến tới thu nhập cao của Việt Nam

Đất nước giàu mạnh, người dân phải được hưởng thành quả

Kết thúc năm 2025, tăng trưởng GDP của VN ước đạt 8,02%, thuộc nhóm dẫn đầu thế giới. Bình quân giai đoạn 2021 - 2025, tăng trưởng GDP đạt khoảng 6,3%/năm, cao hơn giai đoạn trước. Theo Cục Thống kê, quy mô GDP theo giá hiện hành năm 2025 ước đạt hơn 12,847 triệu tỉ đồng, tương đương 514 tỉ USD, tăng 38 tỉ USD so với năm 2024 (476 tỉ USD). GDP bình quân đầu người năm 2025 theo giá hiện hành ước đạt 125,5 triệu đồng/người, tương đương 5.026 USD, tăng 326 USD so với năm 2024 (4.700 USD). GDP bình quân đầu người của VN đã gấp 1,4 lần năm 2020, đưa VN vào nhóm nước có thu nhập trung bình cao, vượt mục tiêu đề ra.

Bước sang năm 2026, Quốc hội đã đề ra mục tiêu tăng trưởng GDP trên 10%/năm. Không chỉ dừng lại ở đó, VN đang hướng đến mục tiêu năm 2045 trở thành nước có thu nhập cao. Tổng Bí thư Tô Lâm đã nhiều lần nhấn mạnh: Bước vào kỷ nguyên mới, đất nước giàu mạnh thì người dân phải được thụ hưởng thành quả đó. Tăng trưởng kinh tế phải đến với tất cả mọi người, làm sao bảo đảm hài hòa, công bằng, bình đẳng, khuyến khích phát triển; không chỉ có mục tiêu tăng trưởng mà phải nâng cao đời sống của người dân.

Kỷ nguyên tiến tới thu nhập cao của Việt Nam- Ảnh 1.

Đất nước giàu mạnh thì người dân phải được thụ hưởng thành quả

Ảnh: Tuấn Minh

Các chuyên gia dự báo ngưỡng thu nhập cao dự kiến năm 2045 vào khoảng 22.200 USD. Mô hình mô phỏng kinh tế cho thấy với tốc độ tăng dân số khoảng 0,99%/năm, trường hợp tăng trưởng GDP giai đoạn 2026 - 2030 đạt xấp xỉ 10% và giai đoạn 2031 - 2045 duy trì quanh mức 8% vẫn cho phép GDP/người năm 2045 đạt khoảng 22.991 USD, vượt qua ngưỡng quốc gia thu nhập cao. Trong kịch bản tăng trưởng tích cực hơn, nếu duy trì 10%/năm cho cả giai đoạn 2026 - 2045, GDP/người có thể đạt hơn 27.000 USD.

Mặt khác, theo phương pháp PPP, năm 2023, năng suất lao động của VN chỉ bằng 11,2% của Singapore, 27% Hàn Quốc, 28,6% Nhật Bản, 36,2% Malaysia và khoảng 65% của Thái Lan. Khoảng cách này chính là "bài toán nền" nếu VN muốn vươn lên nhóm nước có thu nhập cao. Tuy nhiên, lợi thế của VN là tốc độ tăng năng suất thuộc nhóm tốt nhất châu Á, trung bình 5,6%/năm trong giai đoạn 2016 - 2023, cao hơn đáng kể so với Singapore, Malaysia hay Thái Lan. Điều đó cho thấy dư địa "đuổi kịp" là hoàn toàn khả thi nếu duy trì được tốc độ hiện tại, đồng thời chuyển trọng tâm sang các yếu tố nâng chất: đổi mới công nghệ, nâng tỷ lệ nội địa hóa và gia tăng đóng góp của năng suất nhân tố tổng hợp (TFP).

Kỷ nguyên tiến tới thu nhập cao của Việt Nam- Ảnh 2.

Áp dụng khoa học - công nghệ sẽ giúp gia tăng năng suất lao động, cải thiện thu nhập của người dân

Ảnh: CTV

Chuyển từ "đặt nền móng" sang tạo thu nhập thực

Chuyên gia kinh tế Trần Anh Tùng (Trưởng ngành Quản trị kinh doanh, Khoa Quản trị kinh doanh, Trường ĐH Kinh tế - Tài chính TP.HCM) cho rằng điều quan trọng nhất của kỷ nguyên mới là tốc độ chuyển từ "đặt nền móng" sang "tạo thu nhập thực" cho người dân. Chặng đường 20 năm tới 2045 không thể đi bằng sự ổn định đơn thuần mà phải được đo bằng mức tăng thu nhập thực tế trên đầu người và năng suất lao động.

Hiện nay, GDP bình quân đầu người của VN ở mức khoảng 4.300 - 4.500 USD. Để trở thành nước thu nhập cao vào năm 2045, con số này phải vượt ngưỡng 13.000 USD theo chuẩn hiện hành của Ngân hàng Thế giới, tức là tăng gấp khoảng 3 lần trong 20 năm. Điều này tương đương mức tăng trưởng GDP bình quân đầu người tối thiểu 6% mỗi năm, liên tục trong 2 thập niên, chưa tính rủi ro chu kỳ và già hóa dân số. Nếu tăng trưởng GDP chung chỉ ở mức 6,5 - 7%, mà năng suất không cải thiện mạnh, thì thu nhập của người dân sẽ không bật lên như kỳ vọng. Vì vậy, cần có các động lực thúc đẩy để có thể đạt được sức bật.

Theo chuyên gia Trần Anh Tùng, động lực quan trọng đầu tiên là ổn định xã hội trong quá trình chuyển đổi. Bởi nếu thu nhập của nhóm trung lưu và lao động đô thị không được bảo vệ, nếu chi phí sinh hoạt tăng nhanh hơn thu nhập, thì niềm tin xã hội sẽ bị bào mòn. Đó sẽ là rủi ro lớn nhất cho một kỷ nguyên phát triển dài hạn. Bên cạnh đó, cần chuyển từ tăng trưởng dựa vào vốn sang tăng trưởng dựa vào hiệu quả. Mỗi 1% tăng trưởng hiện nay đòi hỏi lượng vốn lớn hơn trước. Nếu không cải cách mạnh đầu tư công, thị trường vốn và cách phân bổ nguồn lực, VN có nguy cơ rơi vào "bẫy đầu tư cao - hiệu quả thấp", làm giàu GDP nhưng không làm giàu người dân.

"Cuối cùng, phải tìm mọi cách nâng năng suất lao động, đặc biệt trong khu vực doanh nghiệp nội địa. Hiện năng suất của VN chỉ bằng khoảng 60% Thái Lan và dưới 40% của Malaysia. Nếu không kéo khu vực doanh nghiệp tư nhân nội địa lên, tăng trưởng sẽ tiếp tục phụ thuộc vào FDI, và thu nhập trung bình sẽ tăng chậm hơn tăng trưởng GDP", ông Trần Anh Tùng lưu ý.

Với cái nhìn khá lạc quan, PGS-TS Đỗ Phú Trần Tình, Viện trưởng Viện Phát triển chính sách ĐH Quốc gia TP.HCM (Trường ĐH Kinh tế - Luật), cho rằng để đạt được mục tiêu hướng đến quốc gia có thu nhập cao, VN cần đổi mới mô hình tăng trưởng kinh tế dựa trên nền tảng khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số. 3 yếu tố này trực tiếp nâng cao năng suất nhân tố tổng hợp (TFP), dịch chuyển cơ cấu theo hướng nâng cao giá trị gia tăng, sử dụng hiệu quả các nguồn lực đầu vào, đồng thời giảm phát thải và rủi ro tài nguyên.

Ở cấp quốc gia, một hệ sinh thái đổi mới sáng tạo năng động sẽ giúp VN nâng cấp chuỗi giá trị, từ gia công sang thiết kế - sở hữu trí tuệ, tạo dư địa tăng trưởng dài hạn, giúp quốc gia vượt qua bẫy thu nhập trung bình. Trước mắt, VN cần triển khai đồng bộ các giải pháp trong Nghị quyết 57 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số. Chẳng hạn nhanh chóng sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện đồng bộ các quy định pháp luật về khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, tài sản công, sở hữu trí tuệ, thuế… nhằm tháo gỡ các rào cản, giải phóng các nguồn lực.

Đặc biệt, cần đẩy mạnh mô hình hợp tác 3 nhà (nhà nước - nhà trường/viện - nhà doanh nghiệp) trong nghiên cứu, chuyển giao và thương mại hóa kết quả nghiên cứu. Có các chính sách ưu đãi, khuyến khích doanh nghiệp, nhất là doanh nghiệp nhỏ và vừa đầu tư cho chuyển đổi số, nghiên cứu, ứng dụng khoa học, đổi mới công nghệ để nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh, quản trị doanh nghiệp.

Song song, Chính phủ cần tiếp tục khơi thông có hiệu quả các nguồn lực trong nền kinh tế mà đặc biệt là khu vực kinh tế tư nhân. Một phần không kém quan trọng là triển khai có hiệu quả Nghị quyết 66 của Bộ Chính trị về đổi mới toàn diện công tác xây dựng, thi hành pháp luật. Đây được xem là "bệ đỡ thể chế" cho tăng trưởng nhanh và bền vững.

PGS-TS Đỗ Phú Trần Tình nhấn mạnh: Nếu khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số được xem là động cơ, thì Nghị quyết 66 là bộ vi điều khiển đảm bảo luật lệ rõ ràng, thực thi nhất quán, chi phí tuân thủ thấp, giảm rủi ro pháp lý, khuyến khích đổi mới, giải phóng nguồn lực xã hội, từ đó nâng cao năng suất nhân tố tổng hợp - yếu tố cơ bản của tăng trưởng nhanh và bền vững. 

Theo báo cáo Chỉ số đổi mới sáng tạo toàn cầu (Global Innovation Index - GII) do Tổ chức Sở hữu trí tuệ thế giới (WIPO) công bố hồi tháng 9.2025, VN là một trong 3 quốc gia (cùng với Trung Quốc và Ethiopia) có tốc độ tăng trưởng năng suất lao động nhanh nhất trong giai đoạn 2014 - 2024. Bức tranh năng suất nhìn theo ngành cho thấy công nghiệp - xây dựng và dịch vụ vẫn là hai "đầu kéo" chính, trong khi nông nghiệp - dù đã rút ngắn khoảng cách - vẫn còn thấp hơn đáng kể so với mức trung bình chung của khu vực.

Các tin khác

Giá xăng ngày mai có thể đảo chiều đi xuống

Giá xăng trong nước ngày mai (22/1) có thể đảo chiều đi xuống. Nếu không tác động đến quỹ bình ổn, giá xăng có khả năng giảm từ 120-150 đồng/lít trong khi giá dầu diesel có thể đi lên.

Thông tin mới về gió mùa đông bắc

Sáng sớm nay (21/1), không khí lạnh đã ảnh hưởng đến một số nơi ở khu vực Đông Bắc Bắc Bộ, ngày và đêm nay tiếp tục ảnh hưởng đến các nơi khác ở miền Bắc và Bắc Trung Bộ.