Sức khỏe - Đời sống

Phình lớn động mạch chủ bụng, người đàn ông được đặt cùng lúc 5 stent graft

Chia sẻ từ bác sĩ chuyên khoa 2 Dương Duy Trang, Phó giám đốc Y khoa kiêm Trưởng khoa Nội Tim mạch - Tim mạch can thiệp, Bệnh viện Gia An 115 (TP.HCM), bệnh nhân là ông P.S (78 tuổi, quốc tịch Campuchia), nhập viện do đau bụng. 

Tại Bệnh viện Gia An 115, kết quả cận lâm sàng ghi nhận ông bị phình động mạch chủ bụng ở đoạn dưới động mạch thận, khối phình hình thoi, kích thước 6,3 cm. Tình trạng phình kéo dài tới động mạch chậu chung 2 bên (phình 3 cm), ngoài ra có huyết khối bám thành động mạch chậu chung bên phải. Đây là một tổ hợp nguy cơ cao, trong đó nghiêm trọng nhất là khối phình lớn; ngoài ra phình kéo dài xuống động mạch chậu chung khiến việc can thiệp trở nên phức tạp hơn.

 - Ảnh 1.

Bác sĩ chuyên khoa 2 Dương Duy Trang đang can thiệp trên người bệnh tại phòng DSA

Ảnh: BVCC

Bác sĩ Trang giải thích: “Động mạch chủ bình thường có đường kính khoảng 18 mm. Khi giãn từ 3 cm trở lên được xem là phình, nếu vượt quá 5 cm thì nguy cơ vỡ túi phình có thể tăng đến 10% mỗi năm. Với kích thước 6,3 cm kèm triệu chứng đau bụng, bệnh nhân này đứng trước nguy cơ vỡ mạch lên tới 15-20% mỗi năm nếu không được can thiệp. Hơn nữa, bệnh nhân đã có triệu chứng đau bụng, nguy cơ vỡ cấp tính càng cao hơn. Nếu vỡ túi phình ngoài bệnh viện, tỷ lệ tử vong trước khi nhập viện lên đến 80-90%. Vỡ phình động mạch vào khoang tự do (như khoang phúc mạc) mà bệnh nhân không đến viện kịp, tỷ lệ tử vong gần như 100%”.

Đặt stent graft nội mạch được xem là hướng tiếp cận tối ưu

Trong điều trị phình động mạch chủ, kỹ thuật đặt stent graft nội mạch được xem là hướng tiếp cận tối ưu hiện nay, nhờ khả năng kiểm soát chính xác vùng tổn thương mà không cần mở ổ bụng. Bác sĩ đưa một ống ghép mạch máu nhân tạo có khung kim loại (stent graft) vào vị trí phình, tạo nên một “đường máu mới” bên trong lòng mạch để cách ly hoàn toàn túi phình khỏi áp lực dòng chảy, giúp ngăn vỡ mạch và bảo tồn cấu trúc mạch máu tự nhiên.

So với phẫu thuật mổ mở - vốn đòi hỏi cắt và thay đoạn mạch bị phình - kỹ thuật này rút ngắn thời gian can thiệp, giảm mất máu và rủi ro nhiễm trùng, đặc biệt phù hợp với người lớn tuổi, bệnh nhân có bệnh nền tim mạch hoặc suy thận.

Trường hợp của ông P.S phức tạp hơn so với thường lệ: Túi phình không dừng ở đoạn dưới động mạch thận mà kéo dài xuống tận 2 nhánh chậu. Bác sĩ không thể chỉ đặt một stent graft thân chính, mà phải phối hợp thêm các stent graft phụ nối từ thân chính xuống động mạch chậu 2 bên. Việc này đòi hỏi bác sĩ “lắp ghép” chính xác để các đoạn stent ăn khớp tuyệt đối, đảm bảo dòng máu lưu thông liên tục. Chỉ cần lệch nhẹ, máu có thể rò ra ngoài hoặc gây tắc dòng chảy xuống chi dưới.

Huyết khối bám thành động mạch chậu chung bên phải còn làm tăng nguy cơ thuyên tắc mạch chi cấp tính trong quá trình can thiệp, khi dòng máu hoặc dụng cụ di chuyển có thể làm bong mảnh huyết khối và gây tắc đột ngột các nhánh mạch nhỏ ở chi dưới.

 - Ảnh 2.

Đặt thành công 5 stent graft

Bác sĩ chuyên khoa 2 Dương Duy Trang đã đặt thành công 5 stent graft, bao gồm stent graft chính 23x10x103 mm ở thân chính ngay dưới 2 động mạch thận và 4 stent graft phụ từ thân chính stent graft vào động mạch chậu ngoài 2 bên (mỗi bên 2 stent). Nhờ đó, đảm bảo dòng máu nuôi thận và chi dưới lưu thông bình thường. 

Sau can thiệp, người bệnh hồi phục tốt. Tái khám sau 20 ngày, kết quả chụp MSCT cho thấy stent graft hoạt động ổn định, không có dấu hiệu rò máu ngoài stent.

Bác sĩ Trang cho biết, phình động mạch chủ bụng thường tiến triển âm thầm và chỉ biểu hiện khi tình trạng phình nặng, nguy cơ biến chứng cao, với các triệu chứng như đau bụng, đau lưng hoặc cảm giác nặng tức. Vì vậy, nhóm nguy cơ cao (nam 65 tuổi, nữ 65 tuổi có yếu tố nguy cơ, người có bệnh nền tim mạch, tiểu đường, tăng huyết áp, rối loạn lipid hoặc có tiền sử hút thuốc lá) nên đi tầm soát mạch máu định kỳ. Việc phát hiện sớm cho phép theo dõi tiến triển bệnh và can thiệp kịp thời khi có chỉ định, giúp người bệnh tránh được nguy cơ vỡ túi phình và biến chứng đe dọa tính mạng.

Các tin khác