Mùng Ba Tết thầy là một nét đẹp lâu đời của văn hóa Việt, nơi tình thầy trò được nối dài qua những cuộc gặp gỡ ấm áp. VietNamNet giới thiệu diễn đàn “Tết Thầy xưa và nay”, ghi lại những câu chuyện và suy ngẫm về nghề dạy học, tôn vinh đạo lý tôn sư trọng đạo trong đời sống hôm nay. Bài viết dưới đây là chia sẻ của Tiến sĩ Nguyễn Hoàng Chương, nguyên Hiệu trưởng Trường THPT Lộc Phát (Lâm Đồng).
Tổ chức Kỷ lục Guinness Thế giới vừa trao chứng nhận kỷ lục 67 năm dạy học cho bà Hannet-Price, 90 tuổi, giáo viên ngôn ngữ người Mỹ. Bà bắt đầu đứng lớp từ năm 1958 và đến nay vẫn chưa nghĩ đến chuyện nghỉ hưu. Với bà, niềm vui lớn nhất là được lắng nghe và đồng hành cùng học sinh. Nghĩ vui, nếu học trò của bà có dịp sum họp vào một ngày tri ân như mùng Ba Tết ở Việt Nam, hẳn phải cần một hội trường rất lớn. Bởi nghề giáo là hành trình gieo trồng bền bỉ, kết tinh bằng tình nghĩa thầy trò.
Nghĩ về một đời người gắn với bục giảng, tôi lại nhớ đến người thầy của mình. Người dạy Toán của tôi thời cấp 3 là thầy C.T.N., phong thái điềm đạm, nhẹ nhàng. Suốt năm lớp 12, tôi hầu như chưa từng nghe thầy trách mắng học sinh. Có chăng chỉ là những lời nhắc nhở, động viên. Hơn nửa thế kỷ đã qua, trong ký ức của tôi, thầy vẫn hiện lên đĩnh đạc, mực thước và gần gũi.
Một lần được thầy gọi lên bảng giải bài tập, tôi làm đúng nhưng trình bày chưa gọn. Thầy nhẹ nhàng nhắc: “Chương để ý cách trình bày bảng nhé!”. Kết quả phép tính cuối cùng của tôi bằng 8. Sau khi nhận xét, thầy khoanh tròn số 8 ấy và cho tôi 8 điểm - một cách chấm điểm vui và dí dỏm. Lời nhắc năm ấy theo tôi đến tận bây giờ. Mỗi lần lên lớp, tôi luôn chú ý phấn bảng ngay ngắn. Học trò cũ gặp lại vẫn bảo nhau: Nhớ thầy Chương là nhớ cách trình bày bảng. Mỗi lời nói, cử chỉ của người thầy đều để lại trong học sinh dấu ấn khó phai.
Trong những bài kiểm tra 15 phút, thầy cho chúng tôi làm lại vài lần. Ai thực sự cố gắng và đạt kết quả tốt sẽ được lấy điểm. Khi phát bài, bên cạnh con điểm được khoanh tròn, thầy ghi chú: “Lấy điểm này”. Học Toán với thầy không nặng áp lực điểm số. Chúng tôi hiểu rằng nếu nỗ lực, thầy luôn tạo cơ hội để mình tiến bộ. Thầy còn thường liên hệ thực tế, giúp chúng tôi đi từ lý thuyết đến cuộc sống.
Mùng Ba Tết, chúng tôi đến thăm, thầy mặc bộ quần áo mới tinh, kể chuyện nghề giáo, chuyện Tết. Chúng tôi nhâm nhi mứt bánh, lắng nghe trong không khí ấm áp, thân tình. Sự tận tâm và gần gũi ấy làm cho mùng Ba Tết thầy trở thành một kỷ niệm thiêng liêng của tuổi học trò.

Thời gian trôi, từ một cậu học trò ngày nào, tôi bước lên bục giảng và bắt đầu hiểu sâu hơn ý nghĩa của hai chữ “thầy trò”. Tháng 9/1982, tôi về dạy tại Bảo Lộc, tỉnh Lâm Đồng. Tết Quý Hợi 1983 là cái Tết đầu tiên tôi không về quê. Mùng Ba, vài học sinh lớp 10 đến chúc Tết khiến tôi vừa bất ngờ vừa luống cuống. Lần đầu tiên trong đời, tôi đón Tết với tư cách một người thầy.
Hồi đó B’Lao còn nghèo, nhưng tình cảm dành cho thầy cô thì rất đậm đà. Theo chân các đồng nghiệp đàn anh đi chúc Tết phụ huynh, đến đâu chúng tôi cũng được đón tiếp chân tình. Có bác B., mẹ một học sinh lớp 11, còn bày biện từng món ăn thịnh soạn đón chúng tôi. Tôi bỡ ngỡ vì lần đầu được dự một bữa tiệc ấm cúng như thế. Mùng Ba Tết năm ấy, tôi bỗng thấy mình “lớn lên”, tự hào vì được gọi bằng hai tiếng "thầy giáo".
Khi ấy, cả huyện chỉ có một trường cấp 3 với hơn 30 giáo viên. Học sinh và phụ huynh gần như biết hết thầy cô. Việc đến chúc Tết thầy trở thành điều tự nhiên, như một phần của nếp sống. Mùng Ba Tết thầy vì thế chứa đựng niềm tin và sự trân trọng dành cho nghề dạy học. Trong niềm vui ấy, tôi tự nhắc mình phải cố gắng dạy thật tốt.
Nhìn lại những mùa Tết đã qua, tôi cảm nhận rõ sự đổi thay của đời sống và giáo dục. Công nghệ làm cách thầy trò kết nối khác trước, nhịp sống trở nên gấp gáp hơn. Ở đâu đó, nét đẹp mùng Ba Tết thầy có lúc phai nhạt. Một học sinh cũ của tôi, hiện sống và làm việc ở Mỹ, kể rằng vào dịp Giáng sinh, phụ huynh học sinh tiểu học thường gửi tặng giáo viên những phiếu quà nhỏ. Ở các cấp học cao hơn, việc tri ân diễn ra giản dị hơn. Mỗi nền văn hóa có cách thể hiện riêng, nhưng điểm chung vẫn là sự trân trọng dành cho người dạy học.
Ngày nay, nhờ mạng xã hội, thầy và trò có thể trò chuyện với nhau bất cứ lúc nào. Người học trong suốt cuộc đời có nhiều thầy cô, nhiều môi trường. Vì thế, việc gặp gỡ vào mùng Ba Tết không phải lúc nào cũng trọn vẹn. Nhưng với những thầy trò gắn bó bằng kỷ niệm sâu sắc, họ vẫn tìm đến nhau như một nhu cầu tự nhiên của tình cảm.
Nhưng dẫu nhiều điều đổi khác, những cuộc gặp gỡ với học trò vẫn luôn mang lại cho tôi cảm giác nguyên vẹn như thuở ban đầu. Mới đây, một học trò cũ của tôi - N.T.N. - sau hơn 20 năm bất ngờ gọi điện hẹn đến thăm. Khi em đến, tôi đang hướng dẫn mấy cháu làm bài tập. Thầy trò gặp lại sau ngần ấy năm mà tình thân vẫn như xưa. Chúng tôi nhắc chuyện cũ. N. kể năm thi tốt nghiệp, em đạt 9,75 điểm môn Lý và giữ mãi niềm vui ấy đến tận bây giờ. Tôi tiếp tục dạy, em ngồi chăm chú nghe, như ngày còn học kèm. Khoảnh khắc chia tay, cái ôm thật chặt khiến cả hai cùng bồi hồi. Trong tôi, những giây phút ấy đẹp như mùng Ba Tết thầy.
Dạy học, dù là chính khóa hay dạy thêm, trước hết vẫn là dạy người. Khi thầy cô tận tâm và học sinh nỗ lực nên người tử tế, tình cảm ấy sẽ bền chặt theo năm tháng. Mùng Ba Tết thầy vì thế không chỉ là một ngày lễ nghĩa, mà còn là biểu hiện tự nhiên của lòng biết ơn và sự kính trọng.
Để nét đẹp ấy được gìn giữ, cần sự chung tay của nhà trường, phụ huynh và xã hội - bằng sự chân thành, liêm chính và nhân văn trong giáo dục. Khi người thầy sống và dạy bằng tất cả tâm huyết, học trò sẽ đáp lại bằng tình cảm bền lâu.
Nghĩ đến người giáo viên 90 tuổi vẫn miệt mài đứng lớp ở một nơi xa, và những cuộc gặp gỡ với học trò của mình, tôi càng tin rằng tình thầy trò là sợi dây bền bỉ nối các thế hệ…
Bạn đọc có thể chia sẻ ý kiến, câu chuyện về “Tết thầy xưa và nay” tới email: [email protected]. Bài viết được đăng tải trên VietNamNet sẽ nhận nhuận bút theo quy định của tòa soạn. Xin trân trọng cảm ơn.











