Thế giới

"Vũ khí gây rối loạn" Mỹ sử dụng trong chiến dịch đột kích Venezuela là gì?

Vũ khí gây rối loạn Mỹ sử dụng trong chiến dịch đột kích Venezuela là gì? - 1

Tiêm kích Mỹ tham gia chiến dịch đột kích Venezuela (Ảnh: Quân đội Mỹ).

Tuần trước, Bộ trưởng Quốc phòng Venezuela Vladimir Padrino cáo buộc Mỹ đã sử dụng Venezuela làm nơi thử nghiệm cho “công nghệ quân sự tiên tiến” và những loại vũ khí chưa từng được sử dụng trước đây trong vụ đột kích và bắt giữ Tổng thống Nicolas Maduro và phu nhân Cilia Flores vào ngày 3/1.

Cuối tuần qua, Tổng thống Mỹ Donald Trump nói với New York Post rằng lực lượng Mỹ thực sự đã sử dụng một loại vũ khí mà ông gọi là “Discombobulator” (vũ khí gây rối loạn).

“Tôi không được phép nói về nó”, ông nói, đồng thời cho biết loại vũ khí này đã khiến thiết bị không thể hoạt động trong chiến dịch.

Chi tiết về chiến dịch quân sự của Mỹ chưa được công bố, nhưng Mỹ từ lâu được biết là từng sử dụng các loại vũ khí nhằm gây mất phương hướng cho binh sĩ và cận vệ, hoặc vô hiệu hóa thiết bị và hạ tầng trong quá khứ.

Vài ngày sau vụ bắt giữ ông Maduro, Thư ký Báo chí Nhà Trắng Karoline Leavitt đã đăng lại những bình luận được cho là xuất hiện trên X của một nhân viên an ninh Venezuela. Người này viết rằng Mỹ đã “phóng thứ gì đó” trong chiến dịch, “giống như một làn sóng âm thanh cực mạnh” gây đau đầu, chảy máu mũi, nôn, ngã xuống đất, không thể cử động.

Trong cuộc phỏng vấn với NewsNation tuần trước, ông Trump nói rằng “vũ khí âm thanh” đã được sử dụng nhằm vào các vệ sĩ của ông Maduro, tại nơi mà ông mô tả là một khu vực được phòng thủ kiên cố.

Sau đó, ông Trump nói rằng Mỹ đã sử dụng một loại vũ khí được thiết kế để vô hiệu hóa các thiết bị phòng thủ với cái tên Discombobulator.

Vũ khí âm thanh của Mỹ

Những hệ thống “âm thanh” nổi tiếng nhất mà Mỹ sử dụng là các thiết bị phát cảnh báo và ra lệnh bằng âm thanh định hướng, đặc biệt là thiết bị âm thanh tầm xa (LRAD), theo nhà phân tích quân sự và chính trị Elijah Magnier ở Brussels, Bỉ.

“Đây không phải là vũ khí truyền thống. Chúng là các thiết bị phát âm thanh công suất lớn, tập trung, được dùng cho các mục đích như ngăn chặn tàu thuyền, bảo vệ căn cứ, hộ tống đoàn xe, quản lý trạm kiểm soát và đôi khi là kiểm soát đám đông”, ông nói.

Mục đích chính của các thiết bị này là kiểm soát hành vi bằng cách truyền mệnh lệnh bằng giọng nói ở khoảng cách xa với âm lượng lớn. Chúng có thể gây khó chịu và được thiết kế để buộc con người phải tuân theo mệnh lệnh hoặc rời khỏi khu vực.

“LRAD đã được triển khai trên tàu để chống cướp biển trong an ninh cảng và bởi các cơ quan thực thi pháp luật. Ở mức công suất cao, các thiết bị này có thể gây đau đớn, chóng mặt, buồn nôn hoặc tổn thương thính giác, khiến việc sử dụng chúng trở nên nhạy cảm và chịu sự giám sát", ông Magnier giải thích.

Tuy nhiên, LRAD không được thiết kế để vô hiệu hóa thiết bị điện tử hay mạng lưới liên lạc.

Một loại vũ khí khác được dùng để làm mất phương hướng con người là hệ thống từ chối chủ động (ADS), thường bị gọi nhầm là vũ khí “âm thanh” nhưng thực chất không sử dụng âm thanh.

“Thay vào đó, nó dùng năng lượng sóng mm để tạo cảm giác nóng rát mạnh trên da, khiến con người phải rời đi”, ông Magnier nói.

Hệ thống LRAD có thể tập trung âm thanh thành một chùm sóng hẹp. Ở mức thấp, nó giúp giọng nói được nghe rõ từ khoảng cách xa, nhưng ở mức cao, nó có thể gây suy nhược về thể chất.

“Những tác động này chỉ mang tính thể chất và tinh thần. Không giống các công cụ điện từ, LRAD không thể tắt tên lửa, radar, máy tính hay hệ thống thông tin liên lạc", ông Magnier nói.

Trong khi đó, ADS gây ra sự làm nóng nhanh lớp ngoài của da, kích hoạt cảm giác khó chịu dữ dội và buộc con người phải rời đi.

“Không hệ thống nào trong số này có thể thực tế vô hiệu hóa hệ thống phòng không, mạng liên lạc hay trang bị quân sự. Nếu thiết bị ngừng hoạt động, khả năng cao là do các phương thức điện từ, tấn công mạng hoặc cắt điện", ông Magnier nhấn mạnh.

Mỹ dùng gì để vô hiệu hóa hệ thống vũ khí và trang bị?

Theo ông Magnier, quân đội Mỹ được biết là sử dụng nhiều loại công cụ “phi động năng” như tác chiến điện tử (EW). EW có thể gây nhiễu radar, chặn liên lạc, đánh lừa GPS và cảm biến.

“Những hành động này giúp kiểm soát phổ điện từ. EW khiến đối phương khó hiểu chuyện gì đang xảy ra và khó phối hợp phòng thủ trước hoặc trong khi bị tấn công", ông nói.

Ngoài ra, Mỹ còn có khả năng kích hoạt chiến dịch không gian mạng - vật lý để vô hiệu mạng lưới và hệ thống điều khiển công nghiệp.

Mỹ cũng có vũ khí năng lượng định hướng chống điện tử. Đây là hệ thống vi sóng công suất cao nhằm vô hiệu hóa thiết bị điện tử bằng cách “dội” xung vi sóng vào mạch điện. “Dự án chính của Mỹ là CHAMP, được tạo ra để vô hiệu hóa điện tử mà không cần dùng lực vật lý", ông giải thích.

Mỹ cũng sở hữu đạn than chì hoặc sợi carbon, có thể gây đoản mạch lưới điện và làm mất điện trên diện rộng mà không phá hủy toàn bộ thiết bị.

Đây là các phương tiện để Mỹ thực hiện chiến dịch tập kích, nhưng chiến lược cơ bản vẫn không đổi, trước hết là làm sập điện, liên lạc, cảm biến và khả năng phối hợp, sau đó mới tiến hành các đòn tấn công vật lý.

Ông Magnier cho biết, Discombobulator không có định nghĩa cụ thể, mà cách hiểu hợp lý nhất là thuật ngữ này ám chỉ một nhóm công cụ phi động năng đã biết. Những công cụ đó có thể làm nhiệm vụ phá rối mạng chỉ huy bằng tấn công mạng; các đòn đánh động năng có chọn lọc nhằm vào ăng-ten, trạm tiếp sóng, nút cảm biến và cắt điện cục bộ.

Các tin khác