Theo Cục Du lịch Quốc gia Việt Nam, năm 2025, tổng lượng khách quốc tế đến Việt Nam đạt gần 21,2 triệu lượt, tăng 20,4% so với năm trước và cao hơn 17,8% so với năm 2019 – thời điểm trước dịch COVID-19.
Lượng khách quốc tế đạt mức cao kỷ lục chủ yếu nhờ sự phục hồi mạnh mẽ của thị trường Trung Quốc. Cụ thể, khách Trung Quốc là thị trường nguồn lớn nhất của Việt Nam tăng 41,3% so với cùng kỳ, đạt 5,3 triệu lượt, trong khi lượng khách Trung Quốc đến Thái Lan sụt giảm do các vấn đề liên quan đến an ninh và tình hình biên giới.
Sự bứt phá của dòng khách Trung Quốc không chỉ mang ý nghĩa về quy mô mà còn cho thấy vị thế ngày càng vững chắc của Việt Nam trên bản đồ du lịch quốc tế.
“Trong bối cảnh cạnh tranh khu vực ngày càng gay gắt, việc kết hợp hiệu quả giữa chính sách thị thực cởi mở, mở rộng kết nối hàng không và nâng cao hình ảnh điểm đến an toàn, thân thiện sẽ là chìa khóa giúp Việt Nam duy trì đà tăng trưởng bền vững, chuyển từ giai đoạn “phục hồi” sang “tăng trưởng và cạnh tranh”, qua đó tiếp tục bứt phá trong những năm tới”, Cục Du lịch Quốc gia Việt Nam nhìn nhận.
10 thị trường gửi khách hàng đầu năm 2025, đơn vị: nghìn lượt. (Nguồn: Cục Du lịch Quốc gia Việt Nam)
Về triển vọng, dẫn số liệu của Công ty công nghệ và tiếp thị du lịch China Trading Desk, Cục Du lịch Quốc gia Việt Nam cho biết khách Trung Quốc đại lục dự kiến sẽ thực hiện từ 165 đến 175 triệu chuyến đi quốc tế trong năm 2026, tăng so với mức ước tính 155 triệu chuyến của năm trước.
Trong đó, Hàn Quốc, Việt Nam và Thái Lan sẽ là ba điểm đến được du khách Trung Quốc ưa chuộng nhất trong năm 2026, nhờ lợi thế kết nối hàng không thuận tiện với Trung Quốc và hệ thống điểm tham quan phong phú.
Con đường để nâng cao giá trị
Theo ông Hoàng Nhân Chính, Trưởng Ban Thư ký Hội đồng Tư vấn Du lịch Việt Nam (TAB), trước đại dịch, phần lớn khách Trung Quốc đến Việt Nam theo mô hình tour trọn gói giá rẻ, tập trung vào mua sắm và các điểm đến đông đúc như Hạ Long, Nha Trang, Đà Nẵng.
Tuy nhiên, sau COVID-19, xu hướng này đã thay đổi rõ rệt. Theo đó, nhận thức về an toàn sức khỏe và vệ sinh của khách Trung Quốc tăng cao. Các điểm đến có biện pháp kiểm soát dịch bệnh tốt, môi trường sạch sẽ, và an ninh đảm bảo được ưu tiên.
Những chuyển biến này đã buộc ngành du lịch Việt Nam chuyển mình mạnh mẽ trong cách tiếp cận và phục vụ khách Trung Quốc. Nhiều địa phương đã phát triển sản phẩm mới phù hợp với nhu cầu của khách du lịch Trung Quốc. Nhiều điểm đến như Tràng An – Bái Đính, Sa Pa, Phú Quốc... đã đưa ra các gói du lịch thiên nhiên, nghỉ dưỡng, chăm sóc sức khỏe, golf, tour tâm linh phù hợp với nhu cầu mới.
Để cải thiện dịch vụ và trải nghiệm cho khách du lịch Trung Quốc, nhiều cơ sở lưu trú, nhà hàng và điểm tham quan đã tăng cường nhân sự biết tiếng Trung, chấp nhận thanh toán qua WeChat Pay, Alipay, cung cấp bảng chỉ dẫn song ngữ và hướng dẫn viên được đào tạo kỹ hơn về văn hóa Trung Quốc.
Nhiều địa phương, doanh nghiệp du lịch đẩy mạnh truyền thông số, xuất hiện trên nền tảng số Trung Quốc. Ngành du lịch đã tổ chức nhiều chuyến roadshow, famtrip cho KOLs và báo chí Trung Quốc, đưa hình ảnh Việt Nam đến gần hơn với khách trẻ Trung Quốc.
Nhiều đường bay giữa Việt Nam và Trung Quốc đã được khôi phục và tăng tần suất, trong đó có các điểm đến lớn như Quảng Châu, Thượng Hải, Bắc Kinh, Thành Đô. Một số hãng hàng không Việt Nam và Trung Quốc hợp tác mở các đường bay thẳng mới đến Đà Nẵng, Nha Trang, Phú Quốc.
Ông Hoàng Nhân Chính, Trưởng Ban Thư ký Hội đồng Tư vấn Du lịch Việt Nam. (Ảnh: Nguyễn Ngọc)
Tuy nhiên, để thị trường này phát triển bền vững và hiệu quả, ngành du lịch cần triển khai các giải pháp đồng bộ với tầm nhìn dài hạn.
Theo đó, Việt Nam cần thay đổi cách tiếp cận, không nên tiếp tục coi khách Trung Quốc là nhóm đại trà, chi tiêu thấp như trước đây. Thực tế, tầng lớp trung lưu, giới trẻ và khách du lịch cá nhân từ Trung Quốc ngày càng nhiều, với nhu cầu rõ rệt về dịch vụ chất lượng, trải nghiệm khác biệt, mang tính cá nhân hóa và giàu giá trị văn hóa.
Bên cạnh đó, việc đa dạng hóa sản phẩm và điểm đến là yêu cầu cấp thiết. Ngoài các tour truyền thống, Việt Nam cần chú trọng phát triển du lịch nghỉ dưỡng cao cấp, golf, ẩm thực, chăm sóc sức khỏe, MICE hay du lịch văn hóa, những loại hình có thể đáp ứng thị hiếu mới và nâng cao giá trị chi tiêu.
Song song với đó, đầu tư vào hạ tầng số như thanh toán điện tử phổ biến ở Trung Quốc, nền tảng đặt dịch vụ trực tuyến hay hệ thống hướng dẫn thông minh bằng tiếng Trung sẽ góp phần nâng cao trải nghiệm của du khách.
Truyền thông tiếp thị cũng phải thay đổi theo hướng nhắm đúng đối tượng và đúng kênh. Việc sử dụng các nền tảng quen thuộc với du khách Trung Quốc như Douyin, WeChat, Xiaohongshu, kết hợp hợp tác chặt chẽ với hãng lữ hành, đại lý trực tuyến và hàng không sẽ giúp gia tăng nguồn khách.
Ngoài Bắc Kinh, Thượng Hải hay Quảng Châu, cần chú trọng mở đường bay thẳng đến những thành phố hạng hai nhiều tiềm năng như Trùng Khánh, Thành Đô, Tây An, Côn Minh, Vũ Hán. Đặc biệt, việc mở rộng thị thực điện tử, miễn visa cho khách đoàn hoặc đơn giản hóa thủ tục nhập cảnh tại các cửa khẩu đường bộ như Móng Cái (Quảng Ninh) sẽ tạo thêm lực hút đáng kể so với Thái Lan, Malaysia.
“Muốn khai thác hiệu quả thị trường Trung Quốc, Việt Nam không chỉ nghĩ đến ‘đón đông’ mà quan trọng là ‘đón đúng’, đúng phân khúc, đúng nhu cầu và đúng kỳ vọng của du khách. Chỉ có như vậy mới nâng cao giá trị, thay vì chỉ chạy theo số lượng”, ông Chính nêu rõ.






