Giá vàng lên cao, dân vẫn không ngừng mua
10h sáng nay (29/1), bà Phan Thị Thu (phường Đức Nhuận, TPHCM) tới tiệm vàng Mi Hồng (phường Gia Định, TPHCM) để mua 1 chỉ vàng nhẫn mừng cưới cháu mình.
Khi tới nơi, bà Thu bất ngờ khi cửa hàng đã hết số thứ tự mua vàng nhẫn và nhiều người vẫn đang chờ đợi. “Giá vàng đang rất mắc, tôi không nghĩ mọi người tới mua đông vậy”, bà nói.

Theo ghi nhận của PV VietNamNet, tại cửa hàng vàng lâu đời Mi Hồng, lúc 10h sáng nay, lượng người ngồi chờ đợi tới lượt mua vàng nhẫn bên trong tiệm rất đông. Số người mua vào áp đảo so với lượng khách hàng có nhu cầu bán ra. Nhân viên bảo vệ tại đây phải liên tục từ chối và hẹn khách mua vàng quay lại vào lúc 6h sáng mai để xếp hàng sớm.
Trong sáng 29/1, tình trạng hết vàng nhẫn cũng diễn ra tại trụ sở Công ty TNHH MTV Vàng bạc Đá quý Sài Gòn - SJC (phường Bàn Cờ, TPHCM). Bên ngoài điểm kinh doanh của SJC, bảo vệ đã sớm treo biển thông báo “Ngưng nhận khách giao dịch vàng nhẫn”.
“Chúng tôi chỉ bán đủ số lượng vàng nhẫn trong buổi sáng. Hẹn anh chị quay lại xếp hàng vào sáng sớm ngày mai”, một nhân viên bảo vệ tại đây cho hay.
Trong khi đó, đối với vàng miếng SJC, người mua buộc phải đăng ký trực tuyến. Chỉ khi đăng ký thành công, khách hàng mới có thể vào bên trong để mua sản phẩm vàng đang rất khan hiếm trên thị trường này.
Đầu phiên giao dịch 29/1, giá vàng miếng SJC được điều chỉnh tăng 5,5 triệu đồng/lượng ở chiều mua vào và đắt hơn 6 triệu đồng/lượng ở chiều bán ra so với mức kết của phiên giao dịch hôm qua, giao dịch ở mức 187,2-190,2 triệu đồng/lượng (mua - bán).
Cùng xu hướng, giá vàng nhẫn trong nước sáng nay được các thương hiệu điều chỉnh tăng mạnh, thiết lập kỷ lục mới. Đơn cử, giá vàng nhẫn loại 1-5 chỉ của SJC được giao dịch ở mức 186,8-189,8 triệu đồng/lượng (mua - bán), tăng 6,1 triệu đồng/lượng ở cả chiều mua vào và bán ra so với mức chốt hôm qua.

Tại thị trường quốc tế, lúc 11h05 ngày 29/1 (giờ Việt Nam), giá vàng giao ngay giao dịch quanh mức 5.541,2-5.543,2 USD/ounce. Mức giá này tăng 127,2 USD/ounce so với giá mở cửa, tương đương mức tăng 2,35%.
Trên Kitco, các chuyên gia cho biết, hợp đồng vàng tương lai ghi nhận mức tăng giá trị USD lớn nhất trong một ngày từ trước đến nay, tăng lên một con số đáng kinh ngạc là 231 USD/ounce và chốt ở mức lịch sử là 5.447 USD/ounce. Đợt tăng giá kỷ lục này được thúc đẩy bởi sự suy yếu của USD, bất ổn địa chính trị gia tăng và một làn sóng tìm kiếm an toàn mạnh mẽ. Trong khi đó, giao dịch trong ngày còn đẩy giá vàng lên cao hơn nữa.
Quay trở lại với thị trường trong nước, bất chấp giá vàng tăng cao và liên tiếp phá vỡ nhiều đỉnh lịch sử mới, các nhà đầu tư dường như chưa có dấu hiệu muốn chốt lời. Người mua vàng kỳ vọng, mức giá của kim loại quý này sẽ còn cao hơn nữa trong tương lai.
Liệu có khả năng giá vàng trong nước sẽ vượt mốc 200 triệu đồng/lượng trong thời gian tới ?
“Hoàn toàn có thể xảy ra”, TS Nguyễn Tuấn Anh, giảng viên ngành Tài chính, Đại học RMIT Việt Nam trả lời câu hỏi của PV VietNamNet, dựa trên đà tăng hiện tại và các yếu tố vĩ mô toàn cầu.
Dự báo từ các tổ chức lớn như Goldman Sachs nâng mức giá vàng cuối năm 2026 lên 5.400 USD/ounce, trong khi JP Morgan dự kiến 5.000-6.000 USD/ounce do nhu cầu trú ẩn từ bất ổn địa chính trị, lạm phát cao và lãi suất thấp.
Ông Tuấn Anh đưa ra phân tích, nếu giá quốc tế tăng thêm 10-15%, kết hợp lạm phát Việt Nam dự kiến 4-5% năm 2026, giá vàng SJC có thể dễ dàng vượt 200 triệu. Ví dụ đã thấy từ lịch sử, trong đại dịch Covid-19 (năm 2020), giá vàng thế giới tăng gần 40% từ vùng 1.500 USD/ounce lên hơn 2.000 USD/ounce chỉ trong 8 tháng, kéo theo giá vàng SJC tăng từ 42 triệu đồng/lượng lên mức đỉnh 62 triệu đồng/lượng.
Rủi ro từ "cơn khát" vàng
Dẫu vậy, rủi ro khi giá vàng tăng quá nóng cũng là rất lớn, có thể dẫn đến vỡ bong bóng và mất mát tài chính.
Theo ông Nguyễn Tuấn Anh, lịch sử cũng cho thấy mặt trái của việc giá vàng tăng nóng. Trong giai đoạn 1976-1980, giá vàng thế giới tăng vọt từ 100 USD/ounce lên mức đỉnh 850 USD/ounce do lạm phát Mỹ vượt 13%. Nhưng sau đó, giá kim loại quý này đã lao dốc tới 65% trong 5 năm tiếp theo (xuống dưới 300 USD/ounce vào năm 1985), khiến nhiều nhà đầu tư "đu đỉnh" phá sản.
Các rủi ro khác có thể kể đến nếu giá vàng tăng quá cao bao gồm chi phí cơ hội như: tiền đầu tư vàng có thể sinh lời cao hơn ở cổ phiếu hoặc trái phiếu nếu kinh tế phục hồi; biến động đột ngột từ chính sách tăng lãi suất của Cục Dự trữ liên bang Mỹ (Fed); và rủi ro lạm phát giả tạo, nơi vàng không bảo vệ được nếu suy thoái toàn cầu xảy ra.
Ở Việt Nam, nếu giá tăng nóng, có thể dẫn đến đầu cơ quá mức, làm méo mó thị trường tiền tệ, vị chuyên gia cho hay.
Cũng theo ông, các động thái của Ngân hàng Nhà nước (NHNN) như cấp hạn mức xuất nhập khẩu vàng cho ngân hàng thương mại, doanh nghiệp, cùng việc cấp phép kinh doanh mua bán vàng miếng từ cuối 2025, là bước đi đúng hướng nhằm tăng nguồn cung và minh bạch thị trường.
Tuy nhiên, các biện pháp trên chưa đủ để hạ nhiệt ngay lập tức và kéo giá vàng trong nước sát với giá thế giới. Nguyên nhân chính nằm ở nguồn cung vẫn hạn chế, tâm lý đầu cơ mạnh mẽ và các yếu tố mang tính cấu trúc thị trường.
Thứ nhất, nguồn cung vàng chưa đáp ứng kịp nhu cầu. Việt Nam tuy có khai thác nhưng sản lượng không đáng kể, thị trường thương mại phụ thuộc chủ yếu vào nguồn vàng nguyên liệu nhập khẩu. Trong khi đó, hạn mức cấp phép nhập khẩu mới chỉ được mở rộng có kiểm soát do NHNN ưu tiên ngoại tệ cho các nhu cầu thiết yếu khác.
Thứ hai, tâm lý đầu cơ và tâm lý tích trữ của người dân làm trầm trọng hóa tình hình. Trong bối cảnh bất ổn địa chính trị toàn cầu và lạm phát Việt Nam dự kiến khoảng 4-5% trong năm 2026, nhà đầu tư coi vàng là kênh trú ẩn an toàn, hạn chế bán ra khiến nguồn cung trôi nổi càng khan hiếm.
Thứ ba, thủ tục hành chính và cơ chế quản lý hạn ngạch nhập khẩu vẫn là rào cản chính tạo ra sự khan hiếm cục bộ, khiến thị trường chưa thể cạnh tranh đầy đủ.
So sánh với Trung Quốc, dù cũng kiểm soát nhập khẩu rất chặt chẽ, nhưng mức chênh lệch giá với thế giới thường chỉ duy trì ở mức thấp (khoảng 1-2%, cao điểm mới lên 5%). Điều này có được nhờ vai trò điều tiết của Sàn giao dịch vàng Thượng Hải (SGE) giúp lưu thông nguồn cung hiệu quả.
“Các dữ liệu trên cho thấy Việt Nam cần thêm thời gian và những cải cách căn cơ (như lập sàn giao dịch hoặc xóa bỏ độc quyền) để các chính sách bình ổn thực sự phát huy hiệu quả”, thành viên Đại học RMIT nói.



