Tiến sĩ Douglas R. Lowy, sinh năm 1942 (thuộc năm Nhâm Ngọ), hiện là Phó Giám đốc của Viện Ung thư Quốc gia Mỹ (NCI). Ông đã cùng các cộng sự, trong đó có tiến sĩ John Schiller phát triển công nghệ tạo ra vaccine chống lại virus HPV gây ung thư ở người. Năm 2017, ông được trao tặng Giải thưởng nghiên cứu Y khoa Lâm sàng Lasker-DeBakey vì những đóng góp giúp vaccine HPV ra đời. Còn năm 2014, ông được trao tặng Huân chương Quốc gia về Công nghệ và Đổi mới cho công trình nghiên cứu của mình.
Tiến sĩ Douglas R. Lowy (ngoài cùng bên trái) cùng ba cộng sự nghiên cứu, phát triển vaccine HPV được Chủ tịch Quốc hội Trần Thanh Mẫn (giữa) trao giải thưởng tại Việt Nam năm 2025. Ảnh: Giang Huy
HPV là virus u nhú ở người, dễ lây qua đường quan hệ tình dục, tiếp xúc da kề da và hiếm hơn khi sử dụng chung đồ dùng cá nhân. Những năm 80, mối liên hệ giữa virus HPV và bệnh ung thư ở người, đặc biệt là ung thư cổ tử cung đã được một nhà nghiên cứu người Đức - ông Harald zur Hausen nghiên cứu, chứng minh. Ông thu thập các mẫu sinh thiết ở người bệnh tại châu Phi và phát hiện ra hai chủng HPV 16 và 18 có liên quan. Thời điểm này, các bệnh ung thư và sùi mào gà do virus HPV gây ra nhiều gánh nặng cho người bệnh, tuy nhiên không có cách phòng ngừa. Các thử nghiệm trên động vật cũng không cho ra kết quả tốt. Điều này khiến hai tiến sĩ Lowy và Schiller đặt câu hỏi, làm sao có thể phát triển vaccine giúp phòng bệnh.
Tiến sĩ Lowy (phía sau) và Schiller là hai bác sĩ giúp tạo ra vaccine HPV. Ảnh: Rhoda Baer
Trước đó, Lowy và Schiller đã nghiên cứu được hai gen gây ung thư, trong đó gen HPV tạo ra các protein gồm E6 và E7 có thể phối hợp với nhau để biến tế bào người thành tế bào ung thư. Họ biết rằng, chính sự hiện diện của các gen sinh ung thư đã làm phức tạp quá trình phát triển vaccine. Lý do là, các vaccine ở thời điểm này sử dụng virus đã được làm suy yếu hoặc bất hoạt, tuy nhiên với virus HPV, việc sử dụng type huyết thanh nào cũng có khả năng đưa các gen sinh ung thư vào cơ thể. Hai ông đã kết hợp cùng tiến sĩ Aimée R. Kreimer và Giáo sư Maura L. Gillison cũng đang nghiên cứu về virus HPV và vaccine phòng ngừa nhằm sớm tìm ra giải pháp.
Nam thanh niên tiêm vaccine HPV Gardasil 9 phòng bệnh tại Hệ thống Tiêm chủng VNVC. Ảnh: Diệu Thuần
Trong quá trình làm việc chung, nhóm nghiên cứu đã nảy ra ý tưởng, lấy toàn bộ một loại protein và để nó tự lắp ráp thành cấu trúc giống virus thay vì chỉ lấy những đoạn nhỏ protein virus. Ý tưởng này đã giúp họ nhận ra, nhiều bản sao của protein virus có thể bám vào virus và ngăn chặn nhiễm bệnh. Khi thử nghiệm trên các tình nguyện viên đã cho kết quả an toàn và có tính sinh miễn dịch cao. Những kết quả này đã được các hãng dược phẩm ứng dụng để sản xuất vaccine HPV và được Cục Quản lý Thực phẩm và Dược phẩm Mỹ (FDA) phê duyệt, đưa vào sử dụng từ năm 2006 cho vaccine HPV Gardasil ngừa 4 type gồm: 6, 11, 16, 18 tiêm cho nữ từ 9-26 tuổi. Từ khi đưa vào sử dụng tại Mỹ, vaccine đã giảm tỷ lệ 88% phụ nữ và 81% trẻ em gái khỏi nguy cơ nhiễm bệnh. Trong số những phụ nữ được tiêm chủng, tỷ lệ tiền ung thư cổ tử cung do HPV giảm 40%.
Năm 2014, vaccine HPV Gardasil 9 ngừa 9 type 6, 11, 16, 18, 31, 33, 45, 52, 58 tiêm cho nam và nữ từ 9-45 tuổi ra đời, cũng dựa trên nghiên cứu này. Các nghiên cứu chỉ ra, vaccine HPV có hiệu quả trong việc ngăn bệnh sùi mào gà, ung thư cổ tử cung, ung thư âm đạo, âm hộ, hậu môn, dương vật và ung thư vùng hầu họng ở cả nam và nữ, hiệu quả đến 95%. Điều đặc biệt là, vaccine HPV Gardasil 9 cũng được phê duyệt và đưa vào sử dụng vào năm Giáp Ngọ cùng con giáp với tiến sĩ Lowy.





